Hiển thị các bài đăng có nhãn công dụng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn công dụng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

Bọ cánh cứng dùng để làm gì?

21:58 |
Công dụng trị bệnh của Bọ Cánh Cứng
Từ thời xa xưa, côn trùng đã được dùng làm những vị thuốc vô cùng quan trọng, trong đó không thể không kể đến con bọ cánh cứng với nhiều công dụng trị bệnh.


Bọ cánh cứng trị được nhiều nhiều bệnh

Theo dược học cổ truyền, bọ cánh cứng vị mặn, tính hàn, có độc, có công dụng định kính, phá ứ, thong tiện, công độc; thường dùng để chữa các chứng co giật, thao cuồng; động kinh, chướng bụng bí kết, nôn thổ phản vị, bí tiểu tiện, ác sang, bệnh lậu, cam tích… Dùng trong, sắc uống 2- 3/ngày hoặc làm thuốc hoàn toàn; dung ngoài, gĩa đắp hoặc tán bột hòa dầu hay sáp bôi.

Chúng tôi xin giới thiệu tới các bạn một số bài thuốc dùng bọ cánh cứng để trị bệnh:
Trẻ em kinh phong co giật: Bọ cánh cứng 2g giã nát, sắc uống, mỗi ngày 2 lần.
Sỏi đường tiết niệu, bang quang: Bọ cánh cứng bỏ đầu sấy khô trên viên ngói nóng rồi tán thành bột mịn, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 3g.

Bọ cánh cứng

Ly trực khuẩn: Bọ cánh cứng đốt tính, tán nhỏ, uống mỗi lần 4g với nước tiểu trẻ em.
Thoát giang: Bọ cánh cứng lượng vừa đủ sao tồn tính, tán bột, trộn với băng phiến rồi xát vào tổn thương.
Trị viêm loét, ác sang và tràng nhạc ( lao hạch): Bọ cánh cứng sao vàng, tán bột hòa với dầu vừng rồi bôi vào tổn thương.
Cam tích: Bọ cánh cứng rửa sạch, sấy khô tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 con. Hoặc bọ cánh cứng 5g, ngũ cốc trùng 6g, tiêu sơn tra 6g, ngưu giác tai 6g, hương phỉ tử nhục 10 hạt, chính cam thảo 2g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
Polip mũi, mất khứu giác: Bọ cánh cứng 10g, hậu phác 10g, trần bì 10g, ô dược 10g, bạch thược 10g, mộc hương 10g, hương phụ 10g, hoắc hương 15g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
Trị lậu xuất thủy: Bọ cánh cứng sấy khô tán bột, dung tăm bong tấm thuốc nhét vào lỗ trĩ, mỗi ngày thay thuốc một lần.
Mụn nhọt, lở loét: Bột Bọ cánh cứng trộn với dấm đắp vào tổn thương
Tên bắn, mảnh đạn hoặc dằm xóc sâu không ra: Bọ cánh cứng 1 con giã nát đắp vào nơi bị thương. Theo kinh nghiệm dân gian, dung bọ cánh cứng phối hợp với lá bồ cu vẽ, lá vông vang, rau muống, củ hành giã nhuyễn với xôi nếp hoặc bọ cánh cứng 1 con đốt thành than, lá gió giấy hay lá ớt rừng ( 1 năm phơi khô tán bột) trộn đều, tẩm rượu đắp đối diện với vết thương để đậy dị vật ra ngoài.Tiếp đó lấy hạt đỗ xanh, rau muống, rau cánh cứng dũi, lá vông vang, lá ké hoa vàng, vỏ cây chân chim, giã nát đắp vào vết thương là thuốc rút hay hút.
Hóc xương: Bọ cánh cứng 2 con đốt cháy, hỏa tiêu diêm 4g, tán bột hòa với dầu vừng xoa vào cổ.
Trọng Hoàng
Thegioicontrung.info
Các Tin Liên Quan:
 
 
CÔNG TY THẾ GIỚI CÔN TRÙNG. Địa chỉ: 188, ấp 3, an phước, Long Thành, Đồng Nai.
Phone: 0917.193.393 - 0613.544.220 - Email: thegioi_contrung@yahoo.com
 

TAG: Cung cấp bọ cánh cứng giống, kỹ thuật nuôi bọ cánh cứng, bọ cánh cứng ăn gì, bọ cánh cứng sinh sản, bọ cánh cứng đẻ như thế nào?. bọ cánh cứng muối ớt, bán bọ cánh cứng, quy trình chế biến bọ cánh cứng thành đặc sản, công dụng của bọ cánh cứng, bọ cánh cứng thương phẩm, phòng bệnh cho bọ cánh cứng, chế biến bọ cánh cứng, rượu bọ cánh cứng, bao tiêu sản phẩm bọ cánh cứng. Phone: 0917.193.393 - 0613.544.220


Thứ Ba, 4 tháng 6, 2013

Công dụng trị bệnh của dế dũi ( dế nhũi)

05:56 |

Công dụng trị bệnh của dế dũi ( dế nhũi)

Trong xã hội phát triển ngày nay, việc con người ngày càng có xưu hướng quay về với thiên nhiên, nên việc trị bệnh bằng các bài thuốc đông y ngày dần được chú trọng vì chúng hầu như không để lại các tác dụng phục như các loại thuốc tây y.


Dế dũi trị được nhiều bệnh
 
Theo nghiên cứu của trung tâm y học cổ truyền, thì tại Việt Nam có một loại dế có thể kết hợp với một số vị thuốc đông y để điều trị được rất nhiều bệnh. Tên loại dế này là Dế dũi ( tên khoa học là Gryllotalpa africana Palisot de Beauvois), tên khác là dế dụi, dế nhủi, dế trũi, là một loài côn trùng cỡ lớn, dài 3-4cm, toàn thân màu nâu sẫm.
 
Đầu hình tam giác, mắt to, râu hình chỉ, hai cái dài choãi ra hai bên, hai cái ngắn hướng vào trong. Thân có 4 cánh, hai cánh ngắn rộng chỉ phủ đến nửa lưng, hai cánh dài hẹp cuộn lại thành hình ống; 6 chân, hai chân trước mập khỏe, có móng cứng dạng gai dùng để đào bới, hai chân giữa ngắn có đốt, hai chân sau dài có gai sắc. Đuôi có hai nhánh hẹp và dài.
Dế dũi sống dưới đất ở đồng ruộng, bãi bỏ cỏ hoang, sân vườn, thường xuất hiện vào tháng 7-9.

Dế dũi có mặt ở khắp mọi nơi
 
Trong y học cổ truyền, cả con dế dũi có tên thuốc là thổ cẩu hay lậu cô, được bắt vào tháng 8-9, đem về, rửa sạch, nhúng vào nước sôi hoặc rượu cho chết, rồi vặt cánh, bỏ râu, chân và đuôi, phơi hoặc sấy khô. Khi dùng, để sống hoặc chế biến bằng cách nướng hoặc sao với cám đến vàng. Dược liệu có vị mặn, tính hàn, không độc, có tác dụng lợi tiểu, thông trệ, được dùng như sau:
 
Theo sách thuốc cổ “Nam dược thần hiệu”
 
Chữa đau khắp mình mẩy: Dế dũi (bỏ chân, càng), sa nhân (bỏ vỏ ngoài), lượng hai vị bằng nhau, phơi khô, sao vàng tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày uống hai lần, mỗi lần 2-3g với rượu.
 
Chữa sót nhau, bụng trướng: Dế dũi 1 con, cắt nhỏ, sắc với 200ml nước, đun sôi 20 dạo (trào). Để nguội, uống làm một lần trong ngày.
 
Chữa lở rốn ở trẻ em: Dế dũi và cam thảo, lượng hai vị bằng nhau, đem nướng rồi tán bột mịn mà rắc. Ngày làm vài lần.
 
Thuốc rút gai, dằm: Dế dũi 5-6 con, giã nát, thêm ít nước, đắp vào vết thương. Ngày làm 4-5 lần.
 
Chữa cam tẩu mã: Dế dũi 1 con, bọc bằng màng trắng trứng gà, cho vào miệng một con cóc, lấy đất sét bọc kín lại, đem nung lửa đến khô. Lấy ra, nghiền nhỏ, dùng tăm bông thấm thuốc bôi nhiều lần cho đến khi khỏi.
 
Chữa xơ gan cổ trướng: Dế dũi 7 con, sấy khô; ếch xanh 2 con, bôi váng sữa, sấy khô; vỏ quả bầu 20g, sao. Tất cả tán nhỏ, mỗi lần uống 8g với rượu vào lúc đói.
 
Theo kinh nghiệm dân gian, người hay bị chứng đái rắt, đái buốt, lấy dế dũi và muối ăn, lượng hai thứ bằng nhau, sao khô, nghiền nhỏ, rây bột. Ngày uống hai lần, mỗi lần 4-6g với rượu hâm nóng.
 
Alobacsi.vn
Theo Sức khỏe & đời sống

Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2013

Công dụng trị bênh hen suyển của tắc kè

20:14 |
Công dụng trị bênh suyển của tắc kè

Tắc kè là một loài bò sát quý, trong vài năm gần đây lượng người mua tắc kè để xuất khẩu qua Trung Quốc ngày một nhiều. Lượng tắc kè không đủ cung cấp cho thị trường, nên một số hộ đã bắt đầu đầu tư chăn nuôi tắc kè.


Tắc kè trên 300g quý như vàng


Tắc kè sở dĩ hút hàng như vậy là do công dụng trị bệnh của loài bò sát này, tắc kè được biết đến như là một phương thuốc thần kỳ trong việc điều trị các bệnh hen suyển, ngoài ra tắc kè còn giúp hộ trở điều trị các bệnh ung thư mãn tính, tăng cường khả năng sinh dục của nam giới và chống hiến muộn.

Tắc kè đang bắt mồi



Kỹ thuật nuôi tắc kè tương đôi đơn giản.
Với chuồng 2 mét khối, người nuôi tắc kè có thể nuôi được khoảng 100 đến 150 con tắc kè bố mẹ, thức ăn chủ yếu của tắc kè là các lọa côn trùng như: Dế, cào cào, gián, sâu.... Giá tắc kè thương phẩm nhập cho các nhà hàng vào khoảng 1,5 đến 2 triệu/kg. Nhưng không phải lúc nào cũng có hàng, còn tắc kè quý loại trên 300g, dùng để xuất khẩu qua Nhật thì giá giao động từ 20 đến 30 triệu/con. Qua đây chúng ta cũng thấy được tiền năng của nghề nuôi tắc và công dụng trị bệnh của loài bò sát này là rất lớn. Để hiểu rỏ hơn về kỹ thuật nuôi và công dụng trị bệnh của tắc kè các bạn có thể truy cập vào website: http://thegioicontrung.info/

Trọng Hoàng
Nguồn: nangcoc.com

Thứ Bảy, 22 tháng 12, 2012

Công dụng trị bệnh của bò cạp. Nhiều vô số!

00:54 |

Công dụng trị bệnh của bò cạp. Nhiều vô số!

Ngày nay khi nhiều nước trên thế giới đã sự dụng bò cạp như là một phương thuốc bí truyề để điều trị các bệnh nan y, thì tại Việt Nam vẫn rất ích người hiểu và nắm được hết công dụng trị bệnh của bò cạp! Nhân đây chúng tôi xin giới thiểu tới bà con một số nghiên cứu về công dụng của loài côn trùng này!



Bò cạp mang thai
Bò cạp là một loại thuốc quý trong y học cổ truyền phương đông, theo thống kê của các chuyên gia y học cổ truyền phương Đông thì bò cạp cho đến nay  có thể dung làm thuốc để điều trị cho hơn 100 bệnh!

 Cơ thể bò cạp có chứa 17 loại axít amin cần thiết cho cơ thể con người, ngoài ra nó còn chứa 14 loại nguyên tố vi lượng khác cùng nhiều vitamin đặc biệt có tác dụng mạnh mẽ trong việc tăng cừng sức khẻo, thúc đậy quá trình trao đổi chất, tăng cường khả năng tái tạo và phát triển các tế bào ở cơ thể người!

Rượu thuốc bò cạp

Theo các chuyên gia nghiên cứu thì bò cạp có thể dung để điều trị rất hiệu quả các bệnh thấp khớp, viêm mãn tính, liệt nữa người, tê bì chân tay, đột quỷ, uốn ván, sưng độc không rỏ nguyên nhân, giúp hỗ trở hiệu quả trong việc điều trị bên ung thư và các bệnh lây nhiệm qua đường tình dục như AIDS.



Bò cạp dùng làm thuốc
 
Đặc biệt là bò cạp giữ vai trò rất quan trọng trong việc phòng người và điều trị các bệnh nan y của hệ thống thần kinh, tim mạch, viêm gan B, viên thận, viên dạ dày, bện ngoài da và ung thư gan!
Biên dịch: thegioicontrung.info
Nguồn: www.shengjingshanjingqu.com

Thứ Hai, 22 tháng 10, 2012

Công dụng của phấn ong

22:22 |

  Công dụng của phấn ong

Phấn ong còn gọi là hạt phấn hoa, là tương tự như bột và bụi từ nhị hoa của một bó hoa. Con ong thu thập mật hoa để trộn thành miếng nhỏ và gắn vào mặt sau của cả hai chân. Sau đó được dự trữ trong tổ để nuôi ấu trùng.


Ong đang đang tìm phấn

Những con ong thợ thu nhặt phấn hoa từ 1 đến 4 triệu phân tử trong 1 giờ tương đương 1 muỗng cà phê phấn hoa lên đến 25 tỷ hạt. Mỗi phân tử có thể phát triển với quả đầu tiên. Phấn ong rất giàu vitamin và khoáng chất.

Ong đang lấy phấn
 

Phấn ong có nhiều chất dinh dưỡng và phong phú: Protein trong hoa là có lợi nhất cho những con ong.
Cao gấp 5 lần so với liều có trọng lượng thịt, sữa và trứng .
  • 16 loại vitamin B , vitamin A, vitamin C, vitamin D, vitamin K.
  • 18 loại axit amin. Chất cần thiết để giúp kiểm soát cân nặng.
  • 18 loại enzyme.
  • Khoáng chất cần thiết của cơ quan như Tampa kali, sắt, iốt, đồng và kẽm, vv.

thành phần dinh dưỡng trong phấn ong
 

Lợi ích của phấn ong.
  1. Phấn ong: là một thực phẩm dễ tiêu hóa và  có giá trị để khôi phục lại sự cân bằng của cơ thể. 
  2. Phấn ong làm thảo dược điều trị có thể làm giảm bớt các bệnh sau:
§.          Dị ứng (dị ứng không khí và bụi).
§.          Mũi hoặc viêm xoang.
§.          Cúm
§.          Suyễn
§.          Martina Blossom.
§.          Chu kỳ kinh nguyệt ở phụ nữ, chu kỳ kinh nguyệt không đều.
§.          Các triệu chứng lo âu ở phụ nữ sau mãn kinh.
§.          Trì hoãn da đầy tàn nhang.
§.          Cao huyết áp.
§.          Đau nửa đầu.
§.          Bệnh tiểu đường (làm giảm lượng đường trong máu).
§.          Viêm tuyến tiền liệt.
§.          Đau khớp, đau xương.
.          Không ngủ được
§.          Đau rát do vết loét.    Vv.
  1. Phấn ong nuôi dưỡng và tăng cường dưỡng chất cho các biểu hiện dưới đây.
§.          Độ ẩm trong da luôn luôn khô.
§.          Những mái tóc bạc sớm.
§.          Tăng cường trí não và sự tập trung tốt hơn.
§.          Phấn ong là một chất nội tiết tố tự nhiên kích thích và nuôi dưỡng hệ thống sinh sản của cả nam giới và phụ nữ.
§.          Chăm sóc vận động viên làm giảm mệt mỏi và kiệt sức.
§.         Chăm sóc tâm lý cho những người bị rối loạn tâm thần. Áp lực từ lão hóa quá lo lắng hay chán nản.

Nguồn: thegioicontrung.info

Thứ Hai, 15 tháng 10, 2012

Công dụng của Bò Cạp

22:56 |

Công dụng của Bò Cạp
Bọ cạp là dược liệu giá trị là rất cao, có khoảng 100 các loại toa thuốc y học cổ truyền trung quốc  được chế tạo từ bò cạp. 

Công dụng của bò cạp

Trong bò cạp có chứa 17 loại axit amin cần thiết cho cơ thể và 14 loại nguyên tố vi lượng, bò cạp có công dụng như là một loại thuốc bổ để điều chỉnh chức năng cơ thể, thúc đẩy quá trình trao đổi chất, tăng cường hiệu quả khả năng tồn tại tế bào đối với các bệnh của hệ thống thần kinh, tim mạch, viêm gan B, viêm thận, viêm dạ dày ,cũng là một vai trò duy nhất trong phòng ngừa và điều trị các bệnh ngoài da, ung thư gan và các bệnh nan y khác. Hiện nay, các con bọ cạp được nuôi dưỡng để chế biến thươc phẩm, ngâm rượu và làm dược phẩm.


bò cạp có ích trong y khoa
Nghiên cứu cho thấy bò cạp chứa chất độc có tính chất hóa học và tác dụng dược lý tương tự như thành phần nọc độc thần kinh, cũng chứa TRIMETHYLBENZENE, betain, taurine, axit palmitic, axit stearic, cholesteric, lecithin và muối amoni, nọc độc của nó có mùi tanh , chất độc hại, với chức năng giải độc Zhijing  chữa khỏi Tongluo và có thể chữa bệnh co giật , động kinh, đột quỵ, liệt nửa người, Kouyanwaixie, đau nửa đầu, uốn ván và bệnh ngoài da khác. Nghiên cứu y học cho thấy nọc độc bọ cạp cho việc điều trị các bệnh tim mạch và mạch máu não, và nhiều loại bệnh ung thư có ảnh hưởng nhất định, và phòng ngừa các bệnh mãn tính ảnh hưởng đáng kể. Trong sản xuất nông nghiệp, nọc độc bọ cạp chủ yếu được sử dụng trong sản xuất thuốc bảo vệ thực vật. Với sự phát triển của khoa học y tế, vai trò của nọc độc bọ cạp đã được công nhận rộng rãi rằng nọc độc bọ cạp cũng đắt hơn vàng, đạt 15 triệu nhân dân tệ một kg.


lấy nọc bò cạp
Văn hóa Trung Quốc, với hiệu quả  của y học Trung Quốc di chuyển nhanh chóng trên thế giới, nhiều quốc gia, đặc biệt là Nhật Bản và các nước Đông Nam Á, và mỗi năm cũng đã tăng số lượng nhập khẩu bọ cạp. Do nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, giá bọ cạp tăng, bọ cạp giống trở thành ngày điểm nóng hiện nay.  Đầu vào là thức ăn nuôi trồng thủy sản lớn nhất của ngành công nghiệp, nuôi bò cạp sinh sản nhiều kỳ mà không cần cho ăn quy mô như nuôi trồng thủy sản, khả năng kháng bệnh, khả năng thích ứng của bò cạp rất cao, tiết kiệm thời gian và lao động, đầu tư ít hơn . vì vậy nuôi bò cạp rất có giá trị và mau làm giàu.

Nguồn: thegioicontrung.info

Thứ Hai, 23 tháng 7, 2012

Công dụng trị bệnh của mật ong

07:43 |

Công dụng trị bệnh của mật ong
Các nhà khoa học Hà Lan đã tìm thấy phát hiện ra công dụng trị bệnh của mật ong, các nhà khoa học này đã tìm ra trong mật ong một thành phần mới trước đây chưa hề biết đến có tác dụng diệt vi khuẩn rất hiệu quả.


 
Theo tin của hãng thông tấn Nga Rosbalt, các chuyên gia Khoa Vi sinh thuộc Trung tâm Nghiên cứu Y học Amsterdam đã phát hiện hệ miễn dịch của ong sản xuất ra một chất protid có tên là defensin-1, có trong thành phần của mật.
Chất defensin-1 có trong mật có tác dụng diệt vi khuẩn rất hiệu quả.
Họ đã tách riêng được chất này, xác định công thức hóa học của nó và thử nghiệm tác dụng chữa bệnh. Theo họ, chất protid này có thể dùng để chữa bỏng và các vết nhiễm trùng trên da.
Song không chỉ có vậy. Chất họ phát hiện có khả năng chống lại được một số vi khuẩn gây bệnh đã “nhờn” với thuốc kháng sinh vì thế trong một số trường hợp có thể thay thuốc kháng sinh hiện hành.
“Từ lâu, người ta đã biết mật ong có tác dụng kháng khuẩn, nhưng chưa biết rõ hoàn toàn mật giết chết các vi khuẩn như thế nào. Lần đầu tiên trong lịch sử, chúng tôi đã phát hiện những yếu tố đóng góp hoạt tính kháng khuẩn của sản phẩm thiên nhiên này. Một trong những yếu tố đó là defensine-1, chất chống vi sinh vật mà y học chưa hề nói đến”, bác sĩ Paul Kwakman, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Y học nói.

 
Ông cho biết, ông và các đồng nghiệp đã phát hiện chất này diệt được nhiều loại vi khuẩn đã“nhờn” với các chất kháng sinh gây bệnh. Cụ thể là vi khuẩn Staphylococcus aureus (gây nhọt và các apxe nội) đã nhờn với methicillin, Enterococcus faecium (gây viêm đại tràng, ruột non) nhờn với vancomycin, Ppseudomonas aeruginosa (gây nhiễm trùng đường tiểu) đã nhờn với ciprofloxacin…
 Theo: khoahoc.com.vn

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2012

Công dụng của ve sữa

18:23 |

Công dụng của ve sữa
Hàng năm cứ vào mùa hè tiếng ve kêu rên rang khắp các nẽo đường, nhiều đứa bé bắt ve để chơi, nhưng có rất ít người ở Việt Nam được rằng ve sầu, ve sữa có giá trị dinh dượng và dược liệu rất cao. Đặc biệt là ve sữa có chứa một lượng protein rất cao và có thêm một ít chất béo.

Theo nguyên cứu của Hiệp Hội Dinh Dưỡng Quốc Tế đã chỉ ra rằng 100g ve chứa 4g nước,71.9g protein, l0.9 gram carbohydrate, nguyên tố vi lượng kali 30 mg, l7 mg kẽm, canxi mg. Nhìn vào các cón số có lẽ là hơi trù tượng, chúng ta hãy cùng so sánh hàm lượng protein của ve với các loài động vật khác để thấy được giá trị dinh dưỡng của ve sầu, lượng protein trong ve gấp 3,5 lần thịt bò nạc ( có chứa 20,2% protein ) , gấp 4.3 lần thịt heo nạc(16,7%),  gấp 3.8 lần cho thịt cừu , gấp 3 lần thịt gà (23,3% ), gấp 6 lần cá chép thường (17,3% ) và trứng (11,8%) . Nhộng ve có chứa protein cao hơn nhiều so với bất kỳ loại thịt động vật khác và trứng.



Ngoài giá trị dinh dưỡng ve còn có giá trị dược liệu rất cao, theo Y học hiện đại, ve sầu, ve sữa chứa một số lượng lớn chitin, trong những năm gần đây là chitin được dùng như là loại thuốc chống lão hóa, chống ung thư và là thực phẩm tăng lực, có giá trị kinh tế rất cao.

Ngoài ra, chitin còn giúp mạnh gan, điều hòa huyết áp, giảm đau, cầm máu, khử trùng, cải thiện bệnh tiểu đường, nâng cao vai trò của tiêu hóa, và thậm chí có thể được sử dụng làm da nhân tạo, dây chằng nhân tạo, và các nguyên liệu khác…

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2012

Công dụng của mật ong

17:49 |

Công dụng của mật ong
Mật Ong, theo y học cổ truyền công dụng của mật ong được nêu như sau: thanh nhiệt, bổ trung, giải độc, nhuận táo, chỉ thống. Sống thì tính lạnh, có thể thanh nhiệt; chín thì tính ấm, có thể bổ trung; ngọt mà hòa bình, có thể giải độc; nhu mà nhuận trạch, có thể nhuận táo; hoãn nên trừ cấp, có thể giảm đau ngực bụng, vết thương.

Còn nghiên cứu của dược học hiện đại cho thấy, mật ong có tác dụng kháng khuẩn, chống ung thư, nhuận tràng, giải độc, tăng cường chức năng miễn dịch, cải thiện quá trình chuyển hóa đường trong cơ thể và kéo dài tuổi thọ. Qua nghiên cứu và tìm hiểu chúng tôi xin giới thiệu một số công dụng của mật ong;
Trị ho do phế táo: Mật ong 25g hòa với một lượng dầu vừng thích hợp uống hàng ngày.
Táo bón, ho khan không có đờm: Mật ong lượng vừa đủ uống với nước sôi mỗi ngày 2 lần sáng, chiều. Hoặc mật ong 15ml trộn với vừng đen giã nát 1 thìa uống với nước ấm, mỗi ngày 1 lần.
Điều trị cao huyết áp: Vừng đen 50g rang thơm, giã nhỏ, hòa với 50g mật ong và chừng 200ml nước, chia uống 2 lần trong ngày.
Trị viêm loét giạ dày tá tràng bằng mật ong: Mật ong 100ml chưng cách thủy uống trước khi ăn, mỗi ngày 3 lần, dùng liên tục 2- 3 tuần. Hoặc mật ong 10g, cam thảo sống 10g, trần bì với nước lấy 200ml rồi hòa mật ong chia uống 2-3 lần trong ngày.
 
Trị thiếu máu: Mật ong 80g thìa uống 3 lần trong ngày.
Điều trị nhọt độc, ung thũng: Dùng mật ong trộn với hành cũ giã nát đắp lên tỗn thương.
Dùng mật ong trị viêm loét lưỡi miệng: Mật ong 1 thìa, đại thanh diệp 15g, sắc lấy nước ngậm.

400
Chữa trị ngộ độc ô đầu: Mật ong uống nhiều lần, mỗi lần 1- 4 thìa với nước ấm.
Trị viêm gan: Mật ong và sữa ong chúa lượng bằng nhau, uống mỗi ngày 20g, 20 ngày là 1 liệu trình, dùng liên tục 3 liệu trình.
Trị bỏng: Dùng mật ong bôi sẽ mua khỏi, mau lên da non
Trẻ mới sinh không bú: Mật ong 1 thìa, mở lợn 1 thìa, cam thảo tán bột 2 đồng cân, cùng đun lên  rồi cho trẻ uống tư từ.
Trị chứng trẻ em bị tưa lưỡi: Dùng gạc sạch thấm mật ong, quấn vào ngón tay, thoa đi thoa lại miệng lưỡi nhiều lần.
Trong nhân gian mật ong còn được ngâm với trứng gà sống, 500ml mật ong ngâm vớ 15 – 20 quả trứng đã được dùi một lỗ nhỏ ở phía đầu trong hũ kín rồi đem chôn dưới đất 4 -5 ngày, sau đó lấy lên mỗi sáng ăn 2 quả và uống một ít mật thì sức khẻo sẽ được cải thiện tốt.
Bài viết dựa trên các tiêu chí: công dụng của mật ong, tác dụng trị bệnh của mật ong, điều chế thuốc từ mật ong, cách sử dụng mật ong

Cách sử dụng cà cuống

17:32 |

 Cách sử dụng cà cuống
Cà cuống thường sống nhiều trong các ao hồ, ruộng lúa.. Nên vì thế cà cuống thường có khá nhiều ở Việt Nam. Nhưng ngày nay, do quá trình công nghiệp hóa diện tích ao hồ và đồng ruộng ngày càng giảm dần, cà cuống cũng trở nên ít hơn. 

        Cà cuống sử dụng trong ẩm thực tự bao giờ thì không ai biết nhưng khi nhắc đến những món ăn được ưa chuộng như: bún thang ,chả cá, bánh cuốn, bún chả, bún nem, bánh dày thì bí quyết để làm cho món ăn này ngon và thơm đó chính là cho thêm một vài miếng cà cuống tự nhiên cắt nhỏ vào thì lập tức hương vị của món ăn đó dậy mùi thơm đến độ tuyệt vời, khó quên và rất đặc trưng cho món ăn đó.
         Tinh dầu Cà cuống  có mùi thơm rất ngào ngạt và ta cũng có những cách “thưởng thức” sự đặc biệt đó. Chúng ta dùng đầu nhọn của que tre hay mũi dao rạch một đường ngang ở vị trí giữa đôi chân thứ ba. Gấp bụng cà cuống xuống để bộc lộ hai túi tinh dầu, đây chính là phần tinh túy nhất trong con cà cuống. Dùng kẹp khẽ gắp túi và rút ra một cách nhẹ nhàng (tránh làm rách túi), rồi chích túi cho tinh dầu chảy vào lọ khô, sạch, đậy kín. Nếu đựng trong lọ có nút mài thì có thể bảo quản được rất lâu.
452
 
Tinh dầu cà cuống là một chất lỏng trong vắt, chứa chất thơm được xác định là một hexanol acetat và được sử dụng như thịt và trứng.Trên thực nghiệm y học, tinh dầu cà cuống được dùng với liều thấp theo giọt như một chất kích thích thần kinh, gây hưng phấn và tăng cường nhẹ khả năng sinh dục.

Chúng tôi xin giới thiệu một số công dụng của con cà cuống và cách sử dụng cà cuống trong ẩm thực:
1. DÙNG CÀ CUỐNG LÀM GIA VỊ:  Cà cuống nguyên con đem hấp hoặc nướng chín để tinh dầu lan tỏa toàn thân.Sau đó băm nhỏ hoặc để nguyên con và cho vào lọ nước mắm ngon
452

 
2. NƯỚC MẮM CÀ CUỐNG:Nước mắm cà cuống này được dùng để chấm bánh cuốn, bánh bèo hay các thứ gỏi... đều rất thơm ngon.
 
 452
Nguyên liệu:
•2 con cà cuống.
•120 g nước mắm ngon.
•250g nước lọc.
•50g đường
•10g bột ngọt.
•1 củ tỏi.
•1 trái chanh.
•1 trái ớt sừng
•1 khúc cà rốt.
Cách làm:
•Cà cuống lặt bỏ đầu đuôi, rút ruột, nướng chín vàng, đem băm thật nhuyễn, cho vào 1 chút nước lọc, vắt lấy nước bỏ xác.
•Nước mắm + nước lọc + đường + bột ngọt: cho vào soong nấu sôi, hớt bọt, để thật nguội.
•Tỏi + ớt băm nhuyễn.
•Chanh gọt vỏ, lấy phần cơm, tán nhuyễn.
•Củ cải đỏ thái sợi, bóp muối, rửa sạch, vắt khô.
•Hòa chung: nước cà cuống + nước mắm nấu + tỏi + ớt + chanh + cà rốt. 
Sử dụng: (Mỗi lần chỉ sử dụng chỉ lấy ra một vài giọt)
- Để gia vị cho một số món ăn
- Pha vào nước mắm dùng cho bún chả, bánh cuốn
- Chế vào nước dùng của bún thang
- Pha vào mắm tôm khi ăn chả cá
- Có thể dùng để gia thêm vào giò lụa, nhân bánh chưng.
 Lưu ý:Tinh dầu cà cuống tự nhiên rất dễ bay hơi cho dù có đậy kỹ bao nhiêu, vì thế người ta phải pha chế thành nước mắn cà cuống để giử cho tinh dầu cà cuống không bị bay hơi. Khi cần dùng chỉ cần nhỏ 1- 2 giọt nước mắm này vào chén nước mắm đã pha sẽ có mùi cà cuống thơm ngậy. Với cách làm này, hương vị cà cuống có thể giữ được quanh năm. Tinh dầu cà cuống có mùi thơm êm ái, thanh lịch, cao sang mà bất cứ một loại gia vị nào cũng không thể sánh được. Ai đến nhà chơi, được biếu một lọ tinh dầu cà cuống thì không còn gì bằng.
3. TRỨNG VÀ THỊT CÀ CUỐNG: Thịt và trứng cà cuống chứa protein với hàm lượng khá cao, lipid và các vitamin. Dược liệu có vị ngọt, cay, tính bình, không độc, có tác dụng bổ thận, tráng dương, lợi tiêu hóa.
Bài viết bao gồm các tiêu chí sau: cách sủ dụng cà cuống, nuôi cà cuống, ăn cà cuống, bán cà cuống, chế biến cà cuống , bảo cà cuống, nguồn gốc con cà cuống.

Công dụng trị bệnh của bọ hung

17:25 |

Công dụng trị bệnh của bọ hung
Không hiểu căn cứ vào đâu mà trong vô số loài côn trùng được người xưa sử dụng làm thuốc có cả bọ hung, con vật thường được coi là hôi hám và bẩn thỉu. Chúng sống vùi mình trong đất, đẻ trứng ở đó và dung phân trâu, bò, ngựa, dê… là thức ăn, nhưng có ai ngờ được rằng bọ hung còn có nhiều công dụng trị bệnh.


Bọ hung, còn gọi la khương lang, thiết giác ngưu.. tên khoa học là Allomyrina dichotoma Linnaeus, thuộc họ bọ hung – Geotrupidae. Vào mùa hạ, người ta thường bắt bọ hung rồi rửa sạch, sau đó dùng nước nóng giết chết, bỏ đầu, chân và cánh, sấy khô, dùng nước chin, đốt thành than hoặc dùng tươi để làm thuốc.
Theo dược học cổ truyền, bọ hung vị mặn, tính hàn, có độc, có công dụng định kính, phá ứ, thong tiện, công độc; thường dùng để chữa các chứng co giật, thao cuồng; động kinh, chướng bụng bí kết, nôn thổ phản vị, bí tiểu tiện, ác sang, bệnh lậu, cam tích… Dùng trong, sắc uống 2- 3/ngày hoặc làm thuốc hoàn toàn; dung ngoài, gĩa đắp hoặc tán bột hòa dầu hay sáp bôi.

Chúng tôi xin giới thiệu tới các bạn một số công dụng trị bệnh của bọ hung:
  • Trẻ em kinh phong co giật: Bọ hung 2g giã nát, sắc uống, mỗi ngày 2 lần. 
  • Sỏi đường tiết niệu, bang quang: Bọ hung bỏ đầu sấy khô trên viên ngói nóng rồi tán thành bột mịn, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 3g.
  • Ly trực khuẩn: Bọ hung đốt tính, tán nhỏ, uống mỗi lần 4g với nước tiểu trẻ em.
  • Thoát giang: Bọ hung lượng vừa đủ sao tồn tính, tán bột, trộn với băng phiến rồi xát vào tổn thương.
  • Trĩ viêm loét, ác sang và tràng nhạc ( lao hạch): Bọ hung sao vàng, tán bột hòa với dầu vừng rồi bôi vào tổn thương.
  • Cam tích: Bọ hung rửa sạch, sấy khô tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 con. Hoặc bọ hung 5g, ngũ cốc trùng 6g, tiêu sơn tra 6g, ngưu giác tai 6g, hương phỉ tử nhục 10 hạt, chính cam thảo 2g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
  • Polip mũi, mất khứu giác: Bọ hung 10g, hậu phác 10g, trần bì 10g, ô dược 10g, bạch thược 10g, mộc hương 10g, hương phụ 10g, hoắc hương 15g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
  • Trĩ lậu xuất thủy: Bọ hung sấy khô tán bột, dung tăm bong tấm thuốc nhét vào lỗ trĩ, mỗi ngày thay thuốc một lần.
  • Mụn nhọt, lở loét: Bột Bọ hung trộn với dấm đắp vào tổn thương
  • Tên bắn, mảnh đạn hoặc dằm xóc sâu không ra: Bọ hung 1 con giã nát đắp vào nơi bị thương. Theo kinh nghiệm dân gian, dung bọ hung phối hợp với lá bồ cu vẽ, lá vông vang, rau muống, củ hành giã nhuyễn với xôi nếp hoặc bọ hung 1 con đốt thành than, lá gió giấy hay lá ớt rừng ( 1 năm phơi khô tán bột) trộn đều, tẩm rượu đắp đối diện với vết thương để đậy dị vật ra ngoài.Tiếp đó lấy hạt đỗ xanh, rau muống, rau hung dũi, lá vông vang, lá ké hoa vàng, vỏ cây chân chim, giã nát đắp vào vết thương là thuốc rút hay hút.
  • Hóc xương: Bọ hung 2 con đốt cháy, hỏa tiêu diêm 4g, tán bột hòa với dầu vừng xoa vào cổ.
 
T.S Trịnh Đình

Chủ Nhật, 25 tháng 3, 2012

BÒ CẠP TRỊ BÁCH BỆNH CÓ HAY KHÔNG?

02:44 |
Từ lâu trong YHCT đã sử dụng con bọ cạp, hay còn gọi là toàn yết, toàn trùng, yết tử, yết vĩ để làm thuốc. Trên thực tế, người ta có thể thu lấy nọc độc từ bọ cạp bằng cách dùng xung điện kích thích cho tiết nọc, rồi thu lấy.
Nọc bọ cạp khá đắt và được dùng để làm thuốc giảm đau, xoa ngoài da, bắp cơ để trị các chứng đau dây thần kinh ngoại biên, dây thần kinh ở mặt hoặc đau cơ. Ở nước ngoài, người ta đã nuôi bọ cạp để lấy nọc phục vụ cho việc bào chế các loại thuốc nói trên. Về mặt khoa học, người ta đã chứng minh được tác dụng dược lý của bọ cạp, như tác dụng giải các cơn co giật và tác dụng đối kháng với tác dụng gây co giật của strycnin trên thực nghiệm. Bọ cạp được phân bố ở nhiều nơi trên thế giới. Ngay cả ở các vùng sa mạc có khí hậu khắc nghiệt, bọ cạp vẫn có thể sống được. Ở nước ta, bọ cạp hầu như có ở khắp nơi, từ miền núi đến đồng bằng đều có thể phát hiện thấy bọ cạp. Ở miền núi, chúng thường sống trong các khu rừng ẩm ướt, nhất là trong các khe đất, đá ở hai bên bờ suối hoặc dưới các lớp lá mục trong rừng.

 Bọ cạp.

Cách chế biến bọ cạp?
Vào mùa xuân hoặc mùa hạ, người ta bắt bọ cạp, trước hết đem thả vào nước sạch, quấy nhẹ để rửa cho sạch đất cát. Vớt ra để ráo nước, sau đó dùng một dụng cụ để đun dung dịch muối ăn, với tỷ lệ 1kg bọ cạp dùng 300 - 500g muối ăn. Trước hết, đem muối ăn hòa trong khoảng 3 lít nước sạch, đun cho tan hết muối. Bỏ bọ cạp vào, đậy vung và tiếp tục đun sôi trong vài giờ. Vớt ra, phơi âm can (phơi trong bóng râm) đến khi khô hoàn toàn. Bảo quản trong các vại sành hoặc các lọ thủy tinh khô, đậy kín, để nơi khô ráo, tránh ánh sáng. Trước khi dùng, đem bọ cạp ngâm vào nước sạch, rửa cho hết muối, bằng cách quấy đảo và thay nước vài lần. Vớt ra để khô ráo, rồi ngắt bỏ đầu, chân, đuôi, rút ruột, sao khô là có thể sử dụng được.
Theo YHCT, bọ cạp có vị cay, tính bình, có độc. Quy kinh can, có công năng tắt phong, định kinh, công độc, tán kết, thông lạc, chỉ thống. Dùng trị các chứng kinh phong cấp mạn tính, uốn ván, co giật, trúng phong. Liều dùng chung từ  2,5 - 5g.
Trị trường hợp trẻ em lên cơn co giật. Có thể dùng một số bài thuốc sau:
Bài 1: Bọ cạp sao vàng 12g (đã chế biến), răng lợn (đốt cháy) 12g, kinh giới 40g, câu đằng 12g, thuyền thoái 8g, phèn phi 8g. Tất cả nghiền thành bột mịn, làm hoàn nhỏ. Uống theo lứa tuổi. Trẻ em 5 - 6 tháng tuổi mỗi lần uống 2 viên; 1 tuổi mỗi lần 3 viên; 2 tuổi 5 viên, ngày 2 - 3 lần uống với nước trúc lịch (nước vắt ra từ vòi măng tre, sau khi hơ nóng).
Bài 2: Bọ cạp 12g, thạch xương bồ 8g, thiên ma 12g, đởm nam tinh 12g, bạch cương tằm 12g, bạch phục linh 12g, phục thần 12g, bán hạ chế 12g, viễn chí 12g, mạch môn 12g, bối mẫu 6g, hổ phách 6g, trần bì 6g, đẳng sâm 16g. Nghiền bột mịn, trộn đều với trúc lịch và nước sắc cam thảo, gừng, làm hoàn nhỏ. Ngày uống 2 lần mỗi lần 20 viên. Uống trước khi lên cơn co giật.
Bài 3: Bọ cạp một con, bạch cương tằm 8g, địa long (giun đất đã chế biến) 6g. Sắc uống, ngày một thang.
Chữa trúng phong:
Bài 1: Bọ cạp 10g, địa long 10g, xích thược 20g, ngưu tất 20g, hoa hồng 15g. Sắc uống ngày một thang.
Bài 2: Bọ cạp 2,5g, bạch phụ tử 8g, bạch cương tằm 8g. Dùng dưới dạng bột.
Mụn nhọt sưng thũng: Bọ cạp, chi tử đồng lượng, tán bột mịn,  hòa với dầu vừng, bôi vào chỗ sưng đau.
Chú ý: Do có tính độc, không dùng bọ cạp cho phụ nữ có thai.
Cần phân biệt vị thuốc bọ cạp này với một vị thuốc cũng có tên bọ cạp nước. Bọ cạp nước (Cassia fistula L., họ Vang Caesalpiniaceae), còn gọi là muồng bọ cạp, là cây thuốc phổ biến ở vùng Tây Ninh, Bình Phước, Đồng Nai… Người ta thường dùng các bộ phận quả, hạt, rễ và vỏ cây để làm thuốc nhuận tràng, vì chúng chứa các thành phần anthranoid như rhein.
Support : Guide | Blogspot Tips | Television | ↑ back to top
Ghi rõ nguồn namkna.blogspot.com khi phát hành lại thông tin từ trang này
Copyright © 2011. NHÀ HÀNG CÔN TRÙNG - All Rights Reserved
Design by Namkna
Xem tốt nhất ở độ phân giải 1024 x 768 pixel
Six million namkna template bynamkna